Tiếp cận viên cộng đồng - Giảm thiểu nguy cơ nhiễm HIV và tăng xét nghiệm

Thứ năm 28/05/2020 15:22

Nghiên cứu toàn diện về tiếp cận đồng đẳng cho thấy, hoạt động này làm tăng đáng kể kiến ​​thức và xét nghiệm HIV, đồng thời giảm hành vi nguy cơ.

 Một buổi làm việc nhóm của tiếp cận viên đồng đẳng - Ảnh: Tống Nam

Một nghiên cứu giữa những người tiêm chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới và gái mại dâm của các chương trình tiếp cận cộng đồng ở cấp quốc gia tại Việt Nam cho thấy, những người tiếp cận viên đồng đẳng được đào tạo có hiệu quả trong việc giảm hành vi tình dục có nguy cơ cao và tăng các kiến ​​thức và xét nghiệm HIV.

Nghiên cứu tập trung vào các chương trình được hỗ trợ bởi Kế hoạch cứu trợ AIDS khẩn cấp của Tổng thống Mỹ (PEPFAR), nhà tài trợ quốc tế lớn nhất tại Việt Nam. Các chương trình này đã tuyển dụng, đào tạo và triển khai đội ngũ tư vấn viên từ những người đàn ông quan hệ tình dục với nam giới và những người có tiền sử sử dụng ma túy hoặc hoạt động mại dâm như những nhân viên tiếp cận cộng đồng. 

Mỗi nhân viên tiếp cận hỗ trợ đồng đẳng sẽ được tập huấn kiến thức, thông tin, kỹ năng và vật phẩm giảm hạn và phòng chống HIV (như bao cao su, chất bôi trơn, nước cất, bơm kim tiêm sạch) và liên kết họ với xét nghiệm, điều trị HIV và các dịch vụ khác. Hoạt động cùng với các nhân viên tiếp cận cộng đồng là các bác sĩ, chuyên gia hỗ trợ cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ làm việc về HIV tại Việt Nam (ví dụ CDC, USAID, UNAIDS..)

Nghiên cứu được công bố dựa trên khảo sát khoảng 2.200 người thuộc ba nhóm dân cư sống ở sáu tỉnh. Khoảng một nửa số người tham gia khảo sát đã liên hệ với một nhân viên tiếp cận cộng đồng trong sáu tháng qua và một nửa thì không. Kết quả khảo sát được kèm theo 125 cuộc phỏng vấn sâu với mọi người từ mỗi nhóm dân cư.

Những người tham gia có tuổi trung bình 29 và được chia đều giữa nam và nữ. 1/3 số người tham gia báo cáo hoạt động mại dâm là hoạt động hàng ngày chính của họ. Những người đã tiếp xúc với một nhân viên tiếp cận cộng đồng trong sáu tháng qua (nhóm can thiệp) lớn hơn một chút so với những người tham gia so sánh và có nhiều khả năng đã cho kết quả dương tính với HIV (22% so với 15%).

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 48% những người tham gia tương tác với đội ngũ giáo dục đồng đẳng và sức khỏe có thể chứng minh kiến ​​thức tốt về lây truyền, phòng ngừa và điều trị HIV, so với 35% những người không mắc bệnh. Có một mức độ nâng cao về kiến ​​thức về HIV do sự tương tác ngang hàng trong tất cả các nhóm dân số. Phần lớn những người tham gia phỏng vấn cũng mô tả cách các nhân viên tiếp cận cộng đồng đã giúp nâng cao kiến ​​thức về HIV, có liên quan đến thay đổi hành vi, thái độ mới về việc sống chung với HIV và giảm nỗi sợ hãi.

Các nhân viên tiếp cận cộng đồng cũng có tác động đáng kể đến xét nghiệm HIV, với 76% những người tham gia can thiệp đã thử nghiệm HIV so với 47% trong nhóm so sánh. Những người tham gia can thiệp cũng có nhiều khả năng đã nhận được thử nghiệm trước (78% so với 33%) và tư vấn sau thử nghiệm (80% so với 60%).

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu tìm thấy phần lớn những người tham gia hoạt động tình dục đã báo cáo các hành vi tình dục có nguy cơ cao, chỉ có 37% luôn sử dụng bao cao su và 17% thỉnh thoảng sử dụng một lần trong sáu tháng qua. Khoảng 38% phụ nữ bán dâm báo cáo luôn sử dụng bao cao su, tỷ lệ bao cao su phù hợp cao nhất trong ba nhóm dân số, trong khi những người tiêm chích ma túy báo cáo sử dụng bao cao su phù hợp thấp nhất ở mức 31%.

Bất kể nhóm dân số nào, tỷ lệ cao hơn đáng kể trong số những người thuộc nhóm can thiệp đã báo cáo việc sử dụng bao cao su thường xuyên hơn và điều này đúng bất kể quan hệ tình dục với bạn tình chính hay bạn tình hay với khách hàng.

Sự khác biệt trong sử dụng bao cao su phù hợp giữa những người tham gia can thiệp và so sánh là lớn nhất với bạn tình của khách hàng đối với cả phụ nữ bán dâm (70% v. 58%) và những người tiêm chích ma túy (61% v. 46%). Trong số những người đàn ông có quan hệ tình dục với nam giới, sự khác biệt giữa nhóm can thiệp và so sánh là cao nhất đối với quan hệ tình dục với bạn tình bình thường (42% v. 32%).

Liên quan đến việc sử dụng bơm kim tiêm, các nhà nghiên cứu tìm thấy mức độ thấp của các hành vi rủi ro và ít bằng chứng về tác động của chương trình đối với các hành vi đó. Trong số những người tham gia khảo sát đã báo cáo tiêm chích ma túy trong sáu tháng trước đó, chỉ có 14% báo cáo dùng chung bơm kim tiêm. Trong số những người này, 36% báo cáo sử dụng lại kim / ống tiêm ở lần tiêm cuối cùng. Vài sự khác biệt giữa các nhóm can thiệp và so sánh đã xuất hiện.

Tuy nhiên, khi được hỏi về các biện pháp được thực hiện để giảm nguy cơ nhiễm trùng, 75% người tham gia can thiệp nói rằng họ đã ngừng chia sẻ thiết bị tiêm, so với 68% người tham gia so sánh. Tương tự, 62% người tham gia can thiệp báo cáo bắt đầu làm sạch bơm kim tiêm, hoặc tăng tần suất làm sạch, so với 52% người tham gia so sánh. 

Mặc dù đã hơn một thập kỷ nhưng kết quả của nghiên cứu này vẫn có liên quan lớn đến phản ứng HIV của Việt Nam. Vì Chính phủ Việt Nam sẽ tài trợ 75% cho chương trình HIV vào năm 2020 và các nhà tài trợ quốc tế đang rút dần khỏi Việt Nam, nó cung cấp những hiểu biết hữu ích về cách các nguồn lực sẽ được chi tiêu tốt nhất để bảo đảm những người bị ảnh hưởng nhất bởi HIV có thể được hỗ trợ để bảo vệ sức khỏe của họ và sức khỏe của người khác.

Tống Nam

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh